Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

Bí mật về một lễ hội hành xác.


Bí mật về một lễ hội hành xác.
Từ rất lâu, trong giới pháp sư huyền thuật Việt Nam đã bí mật rỉ tai nhau về một lễ hội hành xác đặc dị ở Việt Nam diễn ra vào giữa tháng Giêng âm lịch nhưng họ luôn giữ bí mật về địa điểm. Họ cho rằng, những ai có "căn, cơ, duyên" mới được biết "thánh địa" diễn ra lễ hội. Những pháp sư huyền thuật có "căn, cơ, duyên" dự lễ hội sẽ có cơ hội nhận được sức mạnh vô hình nhưng rất vô biên. Và hàng năm, cứ mỗi dịp tết đến, các pháp sư lại lục tục đi tìm, dò hỏi địa điểm bí mật đó để tham dự.

Tình cờ, qua một tài liệu của đại sư H "điện bà" ở Hà Nội, chúng tôi phát hiện ra địa điểm đó ở Tân Châu, An Giang. Thông tin duy nhất chúng tôi có được là: Lễ hội hành xác diễn ra tại một ngôi "Am chư vị Năm Ông" ở ấp Long Thị B. Ngày nay, ấp Long Thị B đã trở thành khóm Long Thị B vì thị trấn Tân Châu đã được nâng cấp thành thị xã.

Đi tìm địa chỉ cuộc hành hương kỳ bí

Tại bến xe Tân Châu, tôi nhờ một người chạy xe ôm chở đi khắp khóm Long Thị B để tìm "nơi diễn ra lễ hội hành xác" suốt gần một buổi sáng nhưng công cốc. Anh xe ôm không biết ngôi "Am thờ chư vị Năm Ông" ở đâu đã đành, những người lớn tuổi ở khóm Long Thị B cũng lắc đầu khi được hỏi thăm.

Một số người lấm lét nhìn quanh rồi bảo: Làm gì có lễ hội mê tín dị đoan đó. Sau này, tôi được biết, tất cả những người được hỏi thăm đều biết rất rõ địa chỉ tâm linh đó nhưng ngại chúng tôi là "lực lượng mật" chuyên "bắt" những người hành nghề mê tín, dị đoan nên không chỉ đường. Họ đã cố bảo vệ niềm tin tâm linh của họ một cách yếu ớt bởi chính quyền địa phương cho phép thực hiện lễ hội nhưng cấm tuyên truyền. Có người đã bị phạt vì quay phim lễ hội hành xác rồi chép ra đĩa để bán. Đó là lý do cơ bản nhất khiến lễ hội độc đáo biến thành "bí mật". Sự "bí mật" đó được một số pháp sư thổi lên thành "huyền bí". Vô tình, chính quyền địa phương biến một lễ hội đặc sắc thành một sản phẩm "vô cùng bí mật".

Sau một buổi sáng thất bại, người chạy xe ôm khuyên tôi nên ghé miếu thờ ông Quan Đế đốt hương khấn vái xin giúp đỡ. Anh ta cho biết, người dân địa phương đều làm như vậy mỗi khi "phần đời" gặp bế tắc. Với anh ta, Quan Công là một vị thánh có khả năng giải quyết tất cả mọi chuyện khó khăn mà người đời bó tay. Lời khuyên thật hiệu nghiệm. Tại đó, không cần vào khấn Quan Công, tôi đã gặp một người trợ lễ tên Kiệt. Anh ta xác nhận: "Anh đã tìm đúng chỗ". Nhờ anh Kiệt, tôi đã gặp gỡ nhiều nhân vật "trong cuộc" và mọi chuyện trở nên sáng tỏ.

Nơi diễn ra lễ hội là một tòa kiến trúc kiểu cổ xưa nhưng mới được xây dựng lại tọa lạc tại khu chợ cũ Tân Châu, ven mép thượng nguồn sông Tiền. Tấm biển hiệu ghi là "Quan Đế miếu".

Anh Kiệt cho biết, ngày xưa ngôi miếu nằm ở sát mé sông, do sạt lở, chính quyền đã cấp nền đất mới để xây ngôi mới.

Tại đây, cứ đến dịp rằm tháng Giêng hàng năm, theo nghi lễ truyền thống có từ hàng thế kỷ trước lưu truyền lại, những người được chọn sẽ tắm dầu đun sôi, dùng que sắt đâm xuyên người, dùng chùy gai tự đánh đập mình đến tóe máu để ban phước cho cộng đồng. Không ai biết nguyên nhân từ đâu, khi nào và vì sao xuất hiện một lễ hội độc đáo như vậy tại địa phương mình.


Quan Đế miếu ở Tân Châu, An Giang - nơi diễn ra lễ hội hành xác hàng năm.

Lễ hội Thaipusam kiểu Việt Nam?

Hàng năm, cứ đến mùa chay tháng Giêng, cả thế giới rùng mình chứng kiến những màn hành xác kinh dị của một số tín đồ dự lễ hội Thaipusam ở một số địa điểm: Động Batu ở Kuala Lumpur (Malaysia), đảo PhuKet (Thái Lan), đền Sri Srinivasa Perumal (Singapore), đền Kochi (Ấn Độ)… Những nơi diễn ra lễ hội này đã thu hút hàng ngàn lượt khách du lịch đến xem và… ngất xỉu. Liệu lễ hội hành xác ở Tân Châu có liên quan đến lễ hội Thaipusam?

Ông Hứa Trí Hùng - Trưởng ban bảo quản, được coi là "chủ chùa" - cho biết: "Chỉ biết người xưa làm sao, bây giờ chúng tôi làm y vậy, chứ chúng tôi không biết xuất phát từ đâu".

Theo thông lệ, ở Tân Châu, lễ hội diễn ra suốt 4 ngày từ 13 đến 16 tháng Giêng âm lịch.

Để chuẩn bị lễ hội, từ ngày mùng 4 tết cổ truyền, ban tế tự thực hiện một nghi lễ gọi là lễ "thỉnh Ông". Sau khi bày hương án, 4 vị chức sắc cao cấp nhất trong ban tế tự làm chủ tế đồng loạt đốt hương khấn thỉnh rồi xin keo. Keo là 2 miếng gỗ hình móng ngựa tượng trưng cho lưỡng nghi âm dương. 4 người chủ tế ném keo xuống nền gạch. Nếu cả 2 miếng keo cùng nằm sấp hoặc cùng nằm ngửa tức "Ông" chưa về. Nếu 1 miếng keo nằm sấp và 1 miếng nằm ngửa là "Ông đã về". Trống mừng được gióng lên dồn dập. Các tổ múa lân đang trong tư thế chuẩn bị nhận được tín hiệu "mừng" bắt đầu múa "nghinh Ông".

Đến ngày 13 vào lễ "đạp đường". Sau khi bày hương án, 4 vị chủ tế quỳ hầu xin keo chờ "Ông khai lễ". Khi nhận được tín hiệu, một vị chủ tế vung dùi đánh 3 hồi trống "lệnh khai hội".

Tiếng trống "lệnh khai hội" vừa dứt, một số người dự lễ hội sẽ rơi vào trạng thái vô thức nhập xác lên đồng. Những người này được gọi là "xác căn". Theo các bô lão địa phương thì "xác căn" là do "Ông" chọn đại trong số những người hành hương dự lễ. Họ là những người lao động bình thường, không liên quan đến pháp sư huyền thuật. Có nghĩa là, họ chưa từng học hành, tu luyện hay nhập môn, bái sư bất cứ loại tà thuật nào. Có người hành nghề bán vé số, có người chạy xe ôm, có người là tiểu thương…

Ông D., 72 tuổi, cư ngụ tại khóm Long Thị C, đã từng được "nhập xác" khẳng định: "Trong thời gian nhập xác, tôi hoàn toàn không hay biết chuyện gì xảy ra đối với mình. Trạng thái như bất tỉnh. Khi tỉnh dậy thì mới biết mình được “Ông” chọn làm “xác căn” qua lời kể những người chứng kiến". Ông D. không theo tôn giáo nào, chưa từng học võ nghệ hay luyện bất kỳ loại bùa chú nào. Ông sinh sống bằng nghề làm rẫy. Không phải ai cũng thích làm "xác căn".

Ông X. - một chủ lò bánh ở gần miếu đã từng được "Ông" chọn làm "xác căn". Để trốn tránh, cứ đến những ngày diễn ra lễ hội ông X. phải rời khỏi địa phương cho đến khi hết lễ hội mới dám về. Năm 2009, một thiếu niên 15 tuổi cư ngụ ở xã Long Châu, cùng huyện đến xem lễ hội đã bất ngờ được "Ông" chọn làm "xác căn". Đến mùa lễ hội năm sau, gia đình phải đưa cậu ta sang địa phương khác để trốn tránh.

Ông Hai Nhung, 85 tuổi, cư ngụ ở khóm Long Thị B kể, sau khi "nhập xác", các "xác căn" phải bước qua một bãi than cháy rực để vào miếu chầu “Ông". Ai bước qua bãi than bị bỏng sẽ bị cộng đồng tẩy chay ngay vì đó là "xác căn" dỏm.

"Xác căn" vào miếu chầu "Ông" phải xưng danh. Thông thường, "xác căn" xưng danh 5 ông gồm: Đường Công, Bửu Công, Lãng Công, Chí Công và Hóa Công. Quang cảnh xưng danh của 5 ông Công diễn ra rất rùng rợn, kinh dị bởi những pha ra oai mà ai yếu tim sẽ ngất xỉu: Vừa xưng danh vừa đấm vào người thùm thụp hoặc liên tục đâm đầu vô cột miếu đến phun máu; Có ông rút cây đại đao trên bệ thờ nặng gần chục ký múa bài thảo vùn vụt hoặc dùng dao sắc chém vào người bình bịch (nhưng không hề hấn), có người yêu cầu đun sôi dầu để… tắm. Ngoài 5 ông, còn có một số “Ông”, “Bà" lạ như: Bà Cố hỷ, Hỏa Công Thần tướng…

Điều lạ là, có nhiều người dáng vẻ ốm yếu nhưng khi "nhập xác" thì mạnh mẽ phi thường. Ở địa phương, ai cũng từng chứng kiến bà Tư Dề đã 92 tuổi vẫn được "Ông" chọn  xưng danh "Bà Cố hỷ". Ngày thường, bà yếu đến nỗi khi đi phải có con cháu dìu 2 bên. Bà rất thích lễ hội nên năm nào cũng đến để được "Ông" chọn làm "xác căn".

Kết thúc nghi thức xưng danh, các "xác căn" được người dân đưa lên kiệu. Trên kiệu đặt sẵn một chiếc ngai cắm đinh tua tủa (nếu "xác căn" là đàn ông) hoặc cắm những hàng dao bén (nếu "xác căn" là phụ nữ). Kiệu được người dân xúm nhau công kênh đi diễu hành khắp các đường phố. Trên chiếc ngai kiệu, "xác căn" vừa ngồi nhún nhảy trên hàng chông hoặc dao vừa dùng thanh sắc nhọn xiên quai (đâm xuyên qua cổ họng, môi, gò má), dùng kiếm tự cắt lưỡi hoặc dùng chùy gai sắt tự đánh vào lưng mình. Tất cả những hành động hành xác trên phố đều phun máu.

Để đón phước, mỗi gia đình bày hương án trước hiên nhà, trên đó có bày sẵn tờ giấy để nhận máu của "xác căn". "Xác căn" sẽ đi từng nhà thấm máu của mình vào tờ giấy. Người dân địa phương cho rằng "xác căn" hành hạ mình để dùng máu chuộc lỗi với cõi trên.

Ngai kiệu công kênh "xác căn" đi ban máu từng nhà dài đến một ngôi am thờ ở rải rác trong khu dân cư. Am là một gian thờ trong một ngôi nhà dân.

Suốt 2 ngày 14 và rằm tháng Giêng, các "xác căn" và dân địa phương quây quần tại am. Ai có bệnh, có chuyện buồn đều đến nhờ "căn" giải trừ.


Ông Hai Nhung, người thủ từ am Đường Công.

Am thờ ngũ vị công

Ngày xưa, ở vùng này chỉ có 5 cái am thờ 5 ông Công. Nhưng ngày nay, vì nhiều lý do, người ta chỉ còn biết 2 cái am. Am thờ Đường Công ở số 127/1, đường Nguyễn Công Nhàn, khóm Long Thị B đặt tại nhà cụ Hai Nhung, 85 tuổi.

Cụ Hai Nhung là người kế vị thủ từ ngôi am này từ đời ông nội truyền xuống. Cụ không rõ ngôi am này có từ lúc nào và cũng không hiểu vì sao mình lại thờ "nhất vị" Đường Công. Tuy giữ am nhưng cụ và con cháu trong nhà chưa từng được "Ông" chọn là "xác căn". Mỗi năm đến lễ, các "xác căn" từ nơi khác đến "trấn ngự" ông phải đứng ra chăm sóc và tổ chức tế lễ. Những người dân cùng xóm cũng góp tiền của để ông thực hiện tế lễ. Đến kỳ lễ hội, ngoài "xác căn" Đường Công còn có một số "xác căn" xưng danh khác cùng đến đây dự tiệc.

Am thứ hai thờ Bửu Công ở một địa chỉ gần ngôi chùa Gò Mối thuộc khóm Long Thạnh B. Còn 3 ngôi am thờ Lãng Công, Chí Công và Hỏa Công không ai biết ở đâu.


Một "xác căn" đang vào lễ hành xác (ảnh tư liệu gia đình chú Hai Chương).

Ngoài 5 ngôi am thờ ngũ vị Công, tại địa phương còn có hàng chục ngôi khác thờ "Bà Cố hỷ", Hỏa Công Thần tướng….

Sau 2 ngày tế lễ tại các am, sáng ngày 16, các "xác căn" được dân đưa ngai kiệu trở về Quan Đế miếu để làm lễ "tống tàu". Những chiếc tàu mô hình được dân địa phương chung tay kết thủ công dài khoảng 5 mét. Trên đó, người ta chất đầy đầu heo, bánh trái, gạo, muối. Lễ "tống tàu" được giải thích là "tống tiễn điều xấu xa ra khỏi địa bàn". Những "xác căn" có nhiệm vụ nhảy xuống sông đẩy "tàu" ra xa bờ, càng xa càng tốt.

Nếu so với lễ hội Thaipusam và cách hành lễ hành xác trong lễ hội "cúng Ông" ở Tân Châu có nhiều điểm tương đồng, kể cả việc xuất hiện 5 vị thánh nhập xác. Nói cách khác, lễ hội hành xác ở Tân Châu chính là lễ hội Thaipusam diễn ra hàng năm ở các nước. Điều khác biệt tìm thấy trong lễ hội tại Tân Châu là nhân vật Quan Đế, tức Vân Trường - Quan Công xuất hiện "chỉ huy" tất cả các vị thần "nhập xác" và 5 vị Công thánh. Ngoài ra, tuy lễ hội ở Tân Châu và các nước diễn ra cùng tháng Giêng nhưng khác nhau ngày khởi hội.

5 vị Công thánh ở lễ hội hành xác tại Tân Châu chính là 5 vị Phật Xiêm - Một tín ngưỡng dị biệt xuất hiện ở Thái Lan cùng thời điểm với đức Phật Thích Ca.

Trong thời gian tìm hiểu, người viết đã phát hiện phong trào yêu nước kháng Pháp từ thế kỷ XIX đã "dẫn lối" cho lễ hội Thaipusam du nhập vào Việt Nam. Khi vào đến Việt Nam, lễ hội đã biến thể chút ít và xuất hiện thêm Quan Công và một số vị thần khác.

Với người dân Tân Châu, lễ hội hành xác còn quan trọng hơn tết cổ truyền. Thiết nghĩ, chính quyền địa phương cần tổ chức mời các nhà khoa học về xã hội, văn hóa nghiên cứu nghiêm túc lễ hội độc đáo này. Bởi đó không chỉ là một nét văn hóa tín ngưỡng truyền thống mà còn là chỉ dấu của lịch sử đấu tranh bảo vệ đất nước trước thế lực ngoại xâm của tiền nhân
  Nông Huyền Sơn (nonghuyenson@gmail.com)  - Nguồn : http://antg.cand.com.vn/vi-VN/phongsu/2013/3/80307.cand.

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013

HUYỀN BÍ TÀ LƠN ( BOKOR).BÀI 2.

HUYỀN BÍ TÀ LƠN ( BOKOR ).
Giới thiệu : Trong bài 1 ( 
http://dienbatn0904392219.multiply.com/journal/item/276)
, dienbatn đã giới thiêu đôi chút về sự huyền bí của dãy núi Tà Lơn ( Bokor ) của Căm Pu Chia. nay nhân đọc ANTG, có bài viết của Nông Huyền Sơn khá hay, dienbatn xin giới thiệu với các bạn để có một cái nhìn tổng quát hơn về vùng Thánh địa này.
BÀI 1 : Thám hiểm thánh địa pháp sư Đông Nam Á.
Từ xưa, cái tên Tà Lơn trở thành một "thương hiệu uy thế" đối với những người tín ngưỡng huyền thuật ở khu vực Đông Nam Á. Họ tin rằng, những pháp sư có quá trình tu luyện tại núi Tà Lơn mới tài giỏi thật sự. Vì vậy, sau một thời gian dài học pháp thuật nhuần nhuyễn tại quê nhà, những đồ đệ huyền thuật ở các nước này đều khăn gói đổ về núi Tà Lơn, chui vào hang sâu giữa rừng thẳm để… tốt nghiệp cấp đại sư. Không ít người đã bỏ mạng trong quá trình tu luyện tại đây rồi được giới huyền thuật phong "thánh".
PV Chuyên đề ANTG đã "phượt" đến tận đỉnh núi này để tìm hiểu sự thật.


KỲ I: XÂM NHẬP ĐỈNH LỤC SƠN LINH THIÊNG
Điềm chỉ của một pháp sư Việt
Trước khi sang đất bạn thám hiểm thánh địa Tà Lơn, tôi ghé thăm một ông bạn già tên Chín, cư ngụ ở Tri Tôn, An Giang. Trong giới huyền thuật ở miền Tây Nam Bộ, ông Chín được nhiều nhiều người biết tiếng vì ông đã từng sang Tà lơn luyện phép. Ông Chín cũng rất nổi tiếng ở địa phương vì hàng chục lần bị kiểm điểm tội truyền bá mê tín dị đoan. Với ông, phép thuật không thuộc loại "mê tín dị đoan" mà là một "nét văn hóa tâm linh của người xưa truyền lại". Do mải mê luyện bùa, ngải, phép thuật từ nhỏ nên ông không được đến trường học văn hóa. Tất nhiên, ông mù chữ loại nặng.
Dù mù tất cả các loại chữ viết chính thống trên thế giới nhưng ông lại rất rành các loại chữ bùa, từ chữ bùa Pàli đến chữ bùa Phạn, bùa Lèo, bùa Năm Ông, bùa Lục Sơn (chữ Kh'mer cổ)… Ông đã từng hội ngộ với rất nhiều đại pháp sư khu vực Đông Nam Á tại đỉnh núi Tà Lơn. Những lần hội ngộ như vậy, ông và các đại pháp sư khác quốc tịch, dị biệt ngôn ngữ phải nói chuyện với nhau bằng "tiếng bùa" và "bắt ấn quyết" (tức ra dấu).
Trình độ văn hóa của ông Chín là con số không nhưng trình độ về bùa, chú, ngải thì thuộc đẳng cấp "đại sư". Ông Chín khẳng  định, ai cũng biết đường lên đỉnh Tà Lơn nhưng đường đến nơi tu luyện của các pháp sư thì chỉ có giới pháp sư thuộc đẳng cấp trung sư mới có quyền biết. Đó là những địa điểm bí ẩn chưa có trên bản đồ. Ông từ chối tháp tùng, mặc dù tôi đề nghị một cái giá bồi dưỡng khá cao.  Không chịu đựng nổi sự nài nỉ quyết tâm của tôi, ông đành vẽ một bản sơ đồ kèm lời khuyên: "Chú cứ chạy xe gắn máy qua bển. Đường xe hơi rộng mênh mông nhưng giá thuê rất mắc. Với xe gắn máy, chú có thể luồn lách nhiều chỗ và chủ động thời gian đi".
Tôi quyết định mang xe gắn máy sang đất bạn đề chinh phục đỉnh Tà Lơn.
Ông Chín diễn giải, theo tiếng Kh'mer thì "Tà Lơn" có nghĩa là "Ông thần lớn", tức là vua của các vị thần linh. Đối chiếu với văn hóa tâm linh Việt và tiếng Việt thì "tà" không có nghĩa tương xứng. Một số người cho rằng dịch nghĩa "tà" sang tiếng Việt là "thần hoàng bổn cảnh". Tuy nhiên đối chiếu theo văn hóa tín ngưỡng thì điều này sai biệt rất xa. Với người Kh'mer, ông "Tà" là một pháp sư tài giỏi nhất khu vực. Ông Tà dùng huyền thuật trừng trị bất kỳ ai dám chống lại ông, kể cả dân làng. Nếu ai tuân phục ông Tà sẽ được huyền thuật của ông ta bảo vệ. Ông Tà rất nóng tính và hung dữ.
Còn "thần hoàng bổn cảnh" của người Kh'mer luôn luôn là phụ nữ. Theo truyền thuyết Kh'mer, dãy núi Lục Sơn Tà Lơn do một vị thánh nữ được gọi là Veang Kh'mau "cai quản". Người dân Kh'mer sinh sống dưới chân núi Tà Lơn cho rằng, chủ của đất đai vùng này là hoàng tộc Monivong (quốc vương Campuchia) nhưng khai khẩn vùng này là do một người phụ nữ Việt tên Nàng Mau. Ngày xưa, người dân vùng này chỉ biết hái lượm. Nhờ Nàng Mau dạy trồng lúa nước nên người dân không còn đói kém nữa. Và họ đã tôn người phụ nữ này làm vị thánh đại diện cho lòng nhân ái. Người ta đã xây một bức tượng Veang Kh'mau cao khoảng 20 mét đặt trên đỉnh Bokor. 


Ẩn dưới bãi đá là hàng ngàn hang động.
Tiểu sử “thành phố ma”
Dãy núi Tà Lơn gồm 6 ngọn và ngọn chính có cái tên là Phnom Bokor, có nghĩa "Núi voi". Từ năm 2005, Chính phủ Campuchia đã quy hoạch Pokor - một trong 6 ngọn vùng núi hoang sơ này thành khu du lịch: Đền thờ Monivong - Công viên quốc gia Bokor. Đến đầu năm 2011, khu du lịch này mới hoàn tất cơ bản và đưa vào khai thác du lịch tâm linh. Vì thế, muốn vào núi phải mua vé. Giá vé vào "cổng trời" chỉ 2.000 real, tương đương 6.000 VNĐ.
Đường từ chân lên đỉnh núi dài 33 km được tráng nhựa rất phẳng, đẹp và hiện đại. Đó là con đường độc đạo lên núi. Những cung đường ưỡn ẹo trên những con đèo sâu hun hút và nhiệt độ khoảng 20oC khiến tôi có cảm giác như mình đang chạy xe trên đoạn đèo Đà Lạt.
Năm 1890, thực dân Pháp truy lùng một số người Việt Nam ẩn cư giữa rừng sâu trên đỉnh núi. Khi đó, họ phát hiện khí hậu vùng hoang sơ này rất lý tưởng cho việc nghỉ mát. Đến năm 1921, sau 9 tháng xây dựng, Pháp biến vùng rừng hoang thành một thị trấn trên núi mang tên tiếng Anh là Bokor Hill gồm: Nhà thờ Thiên Chúa giáo, bưu điện, bệnh viện, khách sạn. Các pháp sư bị nhà cầm quyền cầm tù. Những cái am, những hang động tu luyện của các pháp sư  đều bị bỏ hoang phế. Một số pháp sư chạy sâu vào rừng tìm những hang động vắng tiếp tục tu luyện.
Đến năm 1940, thất trận trước quân đội Nhật hoàng, thực dân Pháp co cụm về Phnôm Pênh, bỏ hoang thị trấn Bokor Hill. Sau năm 1945, khi Campuchia độc lập, nhà vua Shihanuk (cha) đã cho xây một cung điện nghỉ dưỡng ở đây và tái sử dụng các công trình của Pháp. Nhưng đến thời Kh'mer Đỏ diệt chủng, toàn bộ thị trấn nhỏ này bị phá hoang tàn. Khi Campuchia được giải phóng khỏi nạn diệt chủng của Pôn Pốt, người ta đã bỏ quên vùng núi hoang vắng này một thời gian dài. Suốt thời gian đó, chỉ có các pháp sư và tín đồ của họ thỉnh thoảng đi lên núi theo những con đường mòn hiểm trở để cúng bái và truyền phép thuật.
Bất ngờ năm 2001, đạo diễn Hollywood Matt Dillon nghe câu chuyện về Bokor bởi một đạo sĩ người Myanmar đã từng tu luyện nơi đây. Năm 2002, Matt Dillon cùng đoàn phim của ông đến tận Bokor thực hiện bộ phim City of Ghost.
Bộ phim nổi tiếng đến nỗi, từ năm 2003, dân Tây du lịch đến Campuchia đều đòi đến thăm "thành phố ma". Rừng thẳm, non cao của Bokor bị  đánh thức.
Hiện giờ, trên đỉnh Bokor, cung điện Hoàng gia đã được xây dựng lại thành Bokor casino và một cụm phức hợp khách sạn casino Thansur Bokor Highland phục vụ du khách ngoại quốc hoạt động ngày đêm.
Các điểm am, miếu tu luyện của pháp sư thời xa xưa trở thành một quần thể du lịch tâm linh không thể thiếu của Bokor.
Tuy nhiên, theo thông lệ hàng năm, các pháp sư Đông Nam Á vẫn tìm về Bokor đi sâu hơn vào rừng, tìm những hang động hoang sơ để thu nạp tinh - khí - thần của vùng thánh địa.


Một bát hương dành cho người "đắc đạo".
Huyền thoại những hang động vô danh
Bỏ qua quần thể casino hiện đại tấp nập người xe tôi tiếp tục tiến cao hơn về đỉnh núi, tại một ngã rẽ, có tấm biển hướng dẫn đến ngôi chùa Wat Sampov Pram mà giới pháp sư Việt gọi là chùa Năm Thuyền hoặc Nam Thiên. Đó chính là nơi "đắc đạo" của nhiều giáo chủ tôn giáo xuất xứ từ miền Nam Việt Nam và cũng là nơi luyện phép thần thông của các pháp sư vùng Đông Nam Á.
Trong các thư tịch, di ngôn, di tự của Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên - Giáo chủ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương; Bổn Sư Núi Tượng Ngô Tư Lợi - Giáo chủ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa; Phật Trùm, Phật sống Cử Đa, Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ, Phật sống Trúc Lâm Nương, Trịnh Công Hương v.v… cho thấy các vị này đều đạt chánh quả, đắc đạo ở ngôi chùa Năm Thuyền này.
Những pháp sư nổi tiếng trước năm 1960 ở miền Nam như Thợ Đức Lỗ Ban; Ông Ba "bùa gồng"; tướng cướp Đơn Hùng Tín; Đông Cung Phan Xích Long và rất nhiều vị đại pháp sư khác cũng đã từng sang khu vực Năm Thuyền luyện phép.
Theo các tài liệu của các pháp sư Việt thì đó là một ngôi am nhỏ do Vua Monivong xây cất vào năm 1924 cho Hoàng tử Pre Thoong đến tu luyện. Pre Thoong được một đại pháp sư người Việt có tên thường gọi là Ba Gang hướng dẫn vào đây luyện phép tiên. Do nơi đây có 5 tảng đá hình chiếc thuyền nên được gọi là Năm Thuyền. Ông Ba Gang và Cử Đa là hai phó tướng của Quản cơ Trần Văn Thành - người chỉ huy cuộc khởi nghĩa Láng Linh - Bảy Thưa trong giai đoạn chống thực dân Pháp  (1867 -1868). Sau khi kháng địa bị thất thủ, Quản cơ Trần Văn Thành tử trận, Cử Đa và Ba Gang về núi Tà Lơn tu luyện phép thuật chờ thời cơ. Lần lượt họ viên tịch tại nơi này và được dân địa phương đúc tượng phong thánh.
Ngày nay, Năm Thuyền không còn là ngôi chùa hoang vắng, u tịch. Nhà đầu tư đã xóa hầu hết dấu tích người Việt và "cải biên" thành một khu du lịch tấp nập người. Họ đã biến tượng Cử Đa và tượng Ba Gang thành "Phật Kh'mer". Ông "lục cả" trụ trì ngôi chùa là người Việt Nam cũng không còn.
Lần theo sơ đồ ông Chín "thầy pháp", tôi rời chùa Năm Thuyền, tiếp tục đi sâu xuống vực núi để đến một nơi đặc biệt. Đó là nơi có nhiều hang động huyền bí dành cho những pháp sư "thi tốt nghiệp cấp đại sư".
Vượt qua con suối, trước mặt tôi hiện ra một bãi đá rộng đến hút tầm mắt. Bãi đá mang nhiều hình thù quái dị chen lẫn với những loài cây cỏ dại. Hàng ngàn khối đá đa hình thù xếp chồng lên nhau tạo thành những cái am thiên nhiên lý tưởng và yên tịnh.
Dù đang giữa trưa, mặt trời đứng bóng nhưng ánh nắng rất dịu mát. Thỉnh thoảng, một làn mây xám bao phủ khiến cảnh vật trời đất trở nên âm u huyền bí. Tôi có cảm giác như mình đang lạc vào cảnh thượng giới. Tôi đi sâu vào bãi đá khoảng 1.000 mét. Ẩn dưới những khối đá, hàng hàng lớp lớp hang động sâu hút. Rất nhiều hang có dấu tích con người. Trước cửa một số hang ai đó đã đặt một bát nhang. Ông Chín "thầy pháp" đã từng kể cho tôi nghe chuyện một số pháp sư đến đây luyện phép và chết luôn trong hang. Với trường hợp như vậy, các pháp sư cho rằng, người chết đã đạt chánh quả và được phong thánh. Tuy nhiên, do không để lại tên tuổi nên các pháp sư đến sau gọi chung những "vị thánh" này theo tiếng Kh'mer là "tà phnum", có nghĩa là thần núi.
Lấy can đảm, tôi thử chui xuống một hang có bát nhang. Cửa hang hẹp vừa vặn thân người nên bên dưới hang tối đen như mực. Chân tôi chạm một phiến đá phẳng khoảng 1m2. Qua ánh đèn pin, tôi thấy trên phiến đá vẫn còn sót lại vài mẩu ngải khô, vài mẫu vải mục đã biến màu. Bên cạnh phiến đá còn có một khe đá sâu hun hút. Không mang theo dụng cụ leo núi, tôi đành bỏ cuộc rời khỏi hang.
Tình cờ khi trở về chùa Năm Thuyền, tôi gặp được một người đàn ông.
Ông tên Vang, 46 tuổi, cư ngụ tại phường Bình San, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, thuộc phái Trà Kha. Ông Vang vừa hoàn tất ngày luyện phép thứ 49 dưới một hang nơi bãi đá. Ông vui vẻ cho biết, nếu tôi đến đây sớm trước một tháng sẽ gặp ít nhất 20 pháp sư như ông ta. Giờ họ đã rời núi, chỉ còn mỗi mình ông ở lại cúng bái tạ ơn các "lục tà" ở chùa Năm Thuyền.

BÀI 2 : Hội luyện phép và 36 ngôi mộ người Việt trên đỉnh Tà Lơn .

Ngoài dấu tích chùa Năm Thuyền, tại đỉnh Bokor còn rất nhiều địa chỉ mang tên thuần Việt như điện Minh Châu, điện Bình Thiên, điện Bàn Ngự, điện Tứ Giao… Đó là dấu tích của những người Việt xưa tu luyện phép thuật nơi này. Ngày nay, những cái tên đó đều được người bản địa "Kh'mer hóa" thành Mik Clau (Minh Châu), Bin Thi (Bình Thiên).
Cho đến tận bây giờ, người Kh'mer vẫn tin rằng, những "lục tà" người Việt có công khai mở thánh địa phép thuật vẫn còn "trụ trì trong không gian". Còn các pháp sư khu vực Đông Nam Á vẫn chọn nơi đây làm "trường thi tốt nghiệp" hàng năm.


Tượng đại sư Ba Gang nằm trong cụm du lịch đã bị Kh'mer hóa.
Lễ hội luyện phép vặt sa.
Nhận ra tôi là đồng hương, lại có "tín vật" đồng môn, ông Vang vui vẻ bắt chuyện. Ông Vang đưa tôi trở lại "kham maya kul" tức quần thể hang động luyện phép thuật. Chúng tôi vạch lá, len khe đá để đi mất nửa giờ đồng hồ mới đến nơi.
Trên đường đi, Vang "khai ngộ" cho tôi. Vang nói: "Khi Nam Tông Phật giáo đồ kết thúc mùa kiết hạ vào ngày rằm tháng 9 thì giới pháp sư bắt đầu vào mùa vặt sa. Vặt sa gần giống với nghĩa kiết hạ của Phật giáo. Vặt sa kéo dài 45 ngày kể từ rằm tháng 9 âm lịch đến kết thúc tháng 10 âm lịch hàng năm. Từ ngày đầu tiên của tháng 10 âm lịch là vào lễ vai xu pa na di ka, mà một số người gọi tắt là vai xu. Ông biết tại sao pháp sư chọn kết thúc mùa kiết hạ mới vào mùa vặt sa không? Bởi thời điểm đó, các hồn ma âm binh vừa được thấm nhuần đường tu. Tranh thủ lúc đó, mình lôi kéo họ về phủ phục dưới trướng mình".
Vang dẫn tôi qua khỏi khu vực hang mà tôi từng biết rồi tiến thật sâu vào "kham maya kul",  đến tận mép một thung lũng sâu hun hút. Xuống đến lưng chừng thung lũng, trước mặt tôi là một quần thể hang động đầy vết tích con người: Chân nhang, tàn thuốc lá, chai nhựa, giấy vàng mã, tiền âm phủ vương vãi khắp nơi giống như vừa trải qua một đám tang tập thể. Vang giải thích: "Bãi kham bên ngoài dành cho những pháp sư mới đến luyện phép lần đầu. Ở đây chỉ có những pháp sư cao tay ấn luyện. Yếu nghề lò mò vào đây mà không có sư phụ đi kèm, ngồi 1 giờ là hồn xiêu phách lạc, bỏ chạy ngay. Đã từng có người chịu không nổi âm khí bị điên luôn".
Tôi vờ tin những lời Vang nói. Từ một cửa hang nhìn ra ngoài, kẻ không tin tâm linh cũng sởn gai ốc chứ đừng nói đến những người tín ngưỡng tà thuật. Vực thẳm sâu hun hút, vách núi dựng đứng, Thỉnh thoảng mây từ dưới thấp dâng lên bao trùm khiến không gian tối sầm. Gió len vào khe đá tạo thành âm thanh như ma rên, quỉ khóc… Nếu tịnh tâm không tốt, không điên mới là lạ.
Có lẽ e ngại tôi bị quỷ nhập, Vang xòe hai bàn tay ra trước mặt rồi cong ngón cái và ngón giữa lại như sắp búng lỗ mũi ai đó trong khoảng không, miệng hô chú thật lớn. Âm thanh vọng xuống thung lũng dội lên như phát ra từ cõi vô hình: "An xáng bang da màm a căm căm ú bà da da ba xa to bà ti ka rit xà mì..ì..ì". Sau này, tôi mở băng ghi âm nhờ một nhà sư Kh'mer trụ trì chùa Ph'nom Phi ở Tri Tôn (An Giang) dịch dùm: "Hỡi những thần linh, chánh thần, tà thần. Nếu nghi ngờ điều gì thì mong các ngài chỉ bảo".
Vang cho biết, đây là lần thứ 5 ông tham dự hội vặt sa ở đỉnh núi thiêng này. Nhiều người cho rằng, hội vặt sa Tà Lơn là một cuộc thi đấu tay đôi phép thuật của những pháp sư. Vang chưa từng biết những cuộc đấu đó nhưng vẫn khẳng định: Không thể có. Đã thi đấu tranh tài cao thấp thì không nhất thiết phải đến đỉnh Tà Lơn này. Đã đến đây, hận thù trần gian phải được rũ bỏ.


Một cửa "kham".
Đối với giới pháp sư, ngoài chuyện Tà Lơn là nơi có dấu tích những bậc Phật, thánh đạt chánh quả, còn có yếu tố "chính huyệt" của khu vực Đông Nam Á. Họ cho rằng, nơi đây là điểm tập trung linh khí trời đất nên con người dễ hấp thu đầy đủ tinh, khí, thần của vũ trụ. Vì những yếu tố đó, các sư phụ luôn đưa đệ tử lên đây để kiểm tra khả năng tu luyện. Nếu vượt qua được kỳ vặt sa, kể như đạt cấp đại sư, đủ trình độ làm thầy. Với những người đạt bậc đại sư cũng đến đây để tôi luyện một món "đồ" (Bảo bối có ẩn chứa phép thuật) hoặc nâng cấp một tuyệt kỹ phép thuật nào đó.
Thông thường, những người dự hội mời một vị cao tăng Campuchia (nước chủ nhà) đứng ra chủ trì "trường thi". Trước khi vào hội, các pháp sư tự chọn và đánh dấu một cái hang rồi mời vị cao tăng chủ trì đi từng hàng làm phép trấn ếm. Sau khi trấn ếm xong các hang, vị cao tăng này phối hợp cùng các sư phụ cộng lực, đồng loạt bày trận địa phù phép, "giăng lưới" khắp bầu trời để truy tìm những ác quỷ, yêu tinh ẩn nấp, "trói" lại nhốt chung vào một cái chum sành có nắp. Vị chủ trì sẽ đem cái chum đó về chùa của mình làm "chiến lợi phẩm". Đám ác quỷ, yêu tinh sẽ được vị cao tăng đó trì chú đến khi thuần phục mới được thả ra làm ôsin "phần âm" cho chùa.
Khi đã trấn ếm an toàn, các sư phụ lùa đệ tử vào từng hang bắt đầu tu luyện. Mỗi đệ tử chỉ được phép mang theo 1 lít nước và một số củ ngải làm thực phẩm. Trong thời gian 45 ngày, nếu bước ra khỏi động, xem như bỏ cuộc thi và bị đánh rớt. Người nào vượt qua được, xem như "tốt nghiệp". Người nào hóa điên được cao tăng chủ trì rước về chùa nuôi suốt đời để trục vong. Họ cho rằng, người yếu tay ấn sẽ bị ác quỷ, yêu tinh nhập vào người khiến điên loạn. Người nào chết luôn trong động, xem như đã đạt cực đỉnh thông tuệ. Cả hội xúm lại trì chú tôn người chết làm thánh, thần.
Trong 5 lần tham dự "đại hội", Vang từng chứng kiến 2 trường hợp "hóa thánh" và 3 trường hợp hóa điên. Trong đó có 1 người Thái Lan chết và 2 người Kh'mer hóa điên. Số còn lại thuộc về người Việt Nam.
Kết thúc hội vặt sa, người nào "tốt nghiệp" sẽ được cao tăng chủ trì trao một "ấn vật" và một giấy chứng nhận có con dấu của Tổng hội Phật giáo Vương quốc Campuchia. Với giấy chứng nhận đó, pháp sư sẽ trở thành thượng khách của bất kỳ ngôi chùa nào trên đất Thái Lan, Myanmar, Campuchia,… trừ Việt Nam và Lào.
Chiều cùng ngày, Vang đưa tôi đi thăm một quần thể 36 mộ người Việt đã "hóa thánh" tại đỉnh núi linh thiêng này.
36 ngôi mộ bí ẩn.
36 ngôi mộ nằm thành 3 cụm riêng biệt nhưng gần nhau. Cụm trong cùng nằm lưng chừng thung lũng có 4 ngôi mộ nằm thành 2 lớp. Lớp trong, sát vách đá có 1 ngôi mộ, phía ngoài là 3 ngôi mộ. Cách đó không xa là một cửa động, trên vách đá có chạm một hàng chữ Hán "Động Kim Quang". 
Ông Vang cho biết, những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở An Giang đều khẳng định đó là mộ Vua… Hàm Nghi và 3 tướng cận vệ. Họ truyền miệng nhau rằng, khi Pháp xâm lược Việt Nam, Vua Hàm Nghi thật không bị Pháp bắt đày đi Algerie. Người bị bắt là một Hàm Nghi giả. Vua Hàm Nghi thật đã lẩn trốn về vùng Thất Sơn (An Giang) gặp Cử Đa. Ông Cử Đa đã đưa Vua Hàm Nghi sang Tà Lơn ẩn trú và chết tại đây. Tại ngôi chùa Phi Lai - Là nơi khai mở đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa - các tín đồ dành hẳn một bàn thờ trang trọng có đặt di ảnh Vua Hàm Nghi. Họ không căn cứ vào bất kỳ tài liệu lịch sử nào mà chỉ dựa vào lời tiên tri qua thơ của Đức Bổn sư Ngô Tự Lợi, Cử Đa và những… giấc mơ.
Ông Vang khẳng định: "Điều đó trái với lịch sử nên tôi không tin. Tôi nghĩ rằng, đó là ngôi mộ của những thành viên hội kín Phan Xích Long". Những điều ông Vang khẳng định có vẻ khả tín hơn.
Căn cứ vào sử liệu, năm 1912, Phan Xích Long (tức Phan Phát Sanh) tự xưng là Đông cung Thái tử, con trai Vua Hàm Nghi. Ông tự tôn mình làm "hoàng đế", khởi nghiệp kháng Pháp bằng cách lập hội kín. Trước đó, Phan Xích Long đã từng sang Tà Lơn luyện bùa phép. Những pháp sư Kh'mer gọi động Kim Quang là "khăm Lơn", gọi núi Bokor là "Tà Lơn", tức ông Tà Thần tên Lơn. Có thể họ đã gọi tên ngọn núi theo tên "Long" thành "Lơn".

Đường xuống "Kham maya kul".
Phan Xích Long đã dùng tín ngưỡng và bùa chú để thu hút thành viên hội kín (Theo tập 2, sách “Đại cương Lịch sử Việt Nam”). Một trong những phó tướng của Phan Xích Long có người tên Nguyễn Hữu Trí (quê Cần Giuộc, Long An bây giờ) đã lấy Tà Lơn làm đại bản doanh chỉ huy hội viên gài bom, tấn công chiếm lĩnh các cơ quan đầu não của Pháp tại Sài Gòn, Chợ Lớn vào đêm 23, rạng sáng 24/3/1913. Pháp phát hiện và truy lùng. Kế hoạch tấn công bị bại lộ, Phan Xích Long, Nguyễn Hữu Trí cùng các hội viên đào tẩu. 
Nguyễn Hữu Trí chạy thoát. Phan Xích Long chạy ra Phan Thiết và bị bắt ở đó. Pháp đem Phan Xích Long về giam ở Khám lớn Sài Gòn cùng với 57 hội viên.
Năm 1916, nhân Pháp bại trận trong Thế chiến I, khoảng 300 hội viên của các hội kín ở Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Cần Giuộc, Cần Đước... cùng bí mật phá tù cứu Phan Xích Long. Nguyễn Hữu Trí chọn núi Cấm làm bản doanh bàn kế hoạch giải cứu "hoàng đế". Đêm 14 rạng ngày 15/2/1916, với khẩu hiệu "Cứu Đại ca" (tức Phan Xích Long), Nguyễn Hữu Trí chỉ huy hàng trăm hội viên ẩn mình trong những chiếc tàu buôn đậu trên sông cầu Ông Lãnh đồng loạt tấn công dinh Thống đốc và Khám Lớn. Họ đeo bùa chú, tay cầm binh khí thô sơ chia làm ba nhóm xông lên. Cuộc giải cứu thất bại, Nguyễn Hữu Trí tử trận. Một số hội viên kịp cướp xác Nguyễn Hữu Trí đào thoát.
Ngày 22/2/1916, thủ lĩnh Phan Xích Long cùng một số nghĩa sĩ bị Pháp tử hình tại Đồng Tập Trận. Sau đó, các đệ tử của ông bí mật đào mộ cướp xác đưa đi mất.
Họ đã đem thi thể Phan Xích Long và Nguyễn Hữu Trí sang núi Tà Lơn an táng tại động Kim Quang. Tướng cướp Đơn Hùng Tín một thời ngang dọc khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thời kháng Pháp là một trong những đệ tử thân tín của Phan Xích Long.
Chúng tôi tiếp tục khám phá những ngôi mộ còn lại. Hai cụm mộ còn lại gồm 32 cái nằm rải rác bên ngoài. Những ngôi mộ này là của những người thế hệ sau Phan Xích Long đến đây tu luyện rồi "hóa thánh".
Tất cả các ngôi mộ đều phủ những phiến đá đánh dấu. Có một ngôi mộ chất đá rất sơ sài không bia mộ. Ông Vang cho biết, vào khoảng năm 1970, những người luyện phép đến đây đã phát hiện một bộ xương khô vẫn còn ngồi trong tư thế thiền. Họ để nguyên tư thế của người chết rồi phủ đá lên.
 Trong số 36 ngôi mộ chỉ có một vài ngôi được dựng bia khắc chữ. Có lẽ đó là mộ của những người giữ miếu, giữ am nên người ta biết rõ danh tính. Một ngôi mộ có đề bia: "Năm 1942 phựng ưu bà di Nguyễn Thị Quan, pháp danh Như Cẩm Nhứt, Vị giác linh. Hạn: Nhâm Ngọ Niên, cửu nguyệt, nhị thập nhất". Số còn lại, chết trong các hang đá, không danh tính nên những người đến sau chôn cất phủ đá đánh dấu.
Ở một số hang đá dưới sâu tận cùng đáy vực vẫn còn chứa một số xương cốt người tu luyện chết rũ không được chôn cất, không được nhang khói. Để leo đến đó phải mất hơn 20 giờ đồng hồ. Thời gian không cho phép tôi tiếp tục thám hiểm.
Điều ông Vang băn khoăn là, khu du lịch Bokor đang tiếp tục thi công mở rộng nhiều hạng mục. Một số di tích người Việt xưa rơi vào khu quy hoạch, đã bị Kh'mer hóa. Những quần thể mộ người Việt, những quần thể "khăm" có thể bị khu du lịch san phẳng, trong đó có những ngôi mộ của nghĩa quân Phan Xích Long. Nếu các nhà khoa học lịch sử không kịp thời nghiên cứu, những di tích đó sẽ biến mất vĩnh viễn, một góc nhỏ lịch sử dân tộc Việt sẽ mai một 
  Nông Huyền Sơn ( ANTG ).
MỘT SỐ HÌNH ẢNH ACE ĐẠO TRÀNG DPLHVV TẠI BOKOK.











Một số kỷ niệm của dienbatn với Phật sống Trúc Lâm Nương , người từng tu luyện đắc Đạo tại BoKor.




Một vài trang trong 2 tập tiên tri của sư bà Trúc Lâm Nương.








Thân ái. dienbatn.

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

Chọn hướng xuất hành và tuổi người xông đất năm mới Quý Tỵ 2013.


Chọn hướng xuất hành và tuổi người xông đất năm mới Quý Tỵ 2013.
dienbatn sưu tầm và biên soạn lại từ nguồn internet.
( Xin cảm ơn các tác giả. )
Trong năm mới, ngoài việc chọn người hợp tuổi xông nhà, chọn ngày đẹp khai trương, người Việt Nam còn có thói quen chọn hướng xuất hành để cầu may mắn trong cả năm.
Hướng xuất hành là hướng đầu tiên khi bước chân ra khỏi nhà vào đầu năm mới. Cùng với việc chọn ngày giờ xuất hành, chọn được hướng xuất hành tốt có thể giúp gia chủ gặp thêm nhiều may mắn.
Để chọn hướng xuất hành, cần tìm hướng có Hỷ Thần hoặc Tài Thần, tránh Hạc Thần. Ba loại thần sát chỉ phương hướng đó thay đổi hướng theo ngày can chi cả năm.
A/ XUẤT HÀNH.
1/Nếu xuất hành vào ngày mùng 1 Tết  :
 Nên xuất hành theo hướng Đông (Tài Thần) hoặc hướng Nam (Hỷ Thần). Vào ngày này Hạc Thần ở trên trời nên không cần quan tâm.
Mùng 1 Tết (Ngày Đinh Mùi 10/2/2013):
Là ngày: Hoàng Đạo (Ngọc Đường)
Tiết: Lập xuân - Trực: Chấp (Bình)
Bảo nhật (can sinh chi - đại cát); ;
Cát tinh: Thiên đức;Tam hợp;
Hung tinh: Đại hao;Tử khí;Quan phù;Hoả tai;
Giờ hoàng đạo: Tuất (19 - 21h); Hợi (21 - 23h); Dần (3 - 5h); Mão (5 - 7h); Tỵ (9 - 11h); Thân (15 - 17h);
Nếu xuất hành vào ngày mùng 2 Tết, nên xuất hành theo hướng Bắc (Tài Thần) hoặc hướng Đông Nam (Hỷ Thần). Vào ngày này Hạc Thần ở trên trời nên không cần quan tâm.
2/ Mùng 2 Tết (Ngày Mậu Thân 11/2/2013):
Là ngày: Hắc Đạo (Thiên Lao)
Tiết: Lập xuân - Trực: Phá (Hung)
Bảo nhật (can sinh chi - đại cát); ;
Cát tinh: Thiên giải;Thiên quí;Lộc mã;Giải thần;
Hung tinh:
Giờ hoàng đạo: Tý (23 - 1h); Sửu (1 - 3h); Thìn (7 - 9h); Tỵ (9 - 11h); Mùi (13 - 15h); Tuất (19 - 21h);
Nếu xuất hành vào ngày mùng 3 Tết, nên xuất hành theo hướng Nam (Tài Thần). Hướng Đông Bắc được Hỷ Thần đóng là tốt nhưng cũng là hướng có Hạc Thần (xấu), nên tốt xấu trung hòa chỉ là bình thường.
3/ Mùng 3 Tết (Ngày Kỷ Dậu 12/2/2013):
Là ngày: Hắc Đạo (Huyền Vũ)
Tiết: Lập xuân - Trực: Nguy (Hung)
Bảo nhật (can sinh chi - đại cát); Can chi xung mệnh tháng (hung); ;
Cát tinh: Thiên thành;
Hung tinh: Địa hoả;
Giờ hoàng đạo: Dần (3 - 5h); Mão (5 - 7h); Ngọ (11 - 13h); Mùi (13 - 15h); Dậu (17 - 19h); Tý (23 - 1h);
Nếu xuất hành vào ngày mùng 4 Tết, nên xuất hành theo hướng Tây Nam (Tài Thần) hoặc hướng Tây Bắc (Hỷ Thần). Tránh hướng Đông Bắc (Hạc Thần) là hướng xấu.
4/ Mùng 4 Tết (Ngày Canh Tuất 13/2/2013):
Là ngày: Hoàng Đạo (Tư Mệnh)
Tiết: Lập xuân - Trực: Thành (Cát)
Thoa nhật (chi sinh can - tiểu cát); ;
Cát tinh: Nguyệt đức;
Hung tinh: Nguyệt phá;
Giờ hoàng đạo: Thìn (7 - 9h); Tỵ (9 - 11h); Thân (15 - 17h); Dậu (17 - 19h); Hợi (21 - 23h); Dần (3 - 5h);
Nếu xuất hành vào ngày mùng 5 Tết, nên xuất hành theo hướng Tây Nam (Tài Thần) hoặc hướng Tây Nam (Hỷ Thần). Tránh hướng Đông Bắc (Hạc Thần) là hướng xấu.
5/ Mùng 5 Tết (Ngày Tân Hợi 14/2/2013):
Là ngày: Hắc Đạo (Câu Trần)
Tiết: Lập xuân - Trực: Thu (Bình)
Bảo nhật (can sinh chi - đại cát); ; Nguyệt Kỵ;
Cát tinh: Thiên hỷ;
Hung tinh: Thổ cấm;Cô thần;Trùng phục;
Giờ hoàng đạo: Ngọ (11 - 13h); Mùi (13 - 15h); Tuất (19 - 21h); Hợi (21 - 23h); Sửu (1 - 3h); Thìn (7 - 9h);
Nên chọn các ngày Hoàng Đạo, tránh ngày Hắc Đạo. Thứ nữa nên chọn các ngày có Trực Cát, tránh Trực Hung, chọn ngày Bảo Nhật, tránh ngày Nguyệt Kỵ, Phạt Nhật,... Tiếp đó xét đến các cát tinh, hung tinh. Nên chọn ngày nào có nhiều sao tốt, ít sao xấu chiếu. Đặc biệt lưu ý cặp sao Trùng Phục, Trùng Tang rất xấu. Sau khi cân nhắc tổng thể các yếu tố ta có thể tìm được ngày xuất hành tốt nhất có thể được (lưu ý không thể có ngày tuyệt đối tốt, chỉ nên chọn ngày tốt nhất trong khả năng có thể thôi).
Sau khi chọn ngày ta chọn tiếp đến giờ tốt. Giờ tốt là các giờ Hoàng Đạo theo ngày tương ứng ở trên.
Tương tự như việc chọn ngày xuất hành, đầu Xuân, nhằm vào ngày tốt, giờ tốt, người có chức tước thì khai ấn, học trò khai bút, nhà nông khai canh, người buôn bán thì khai trương, mở hàng, hầu mong công việc tiến triển thuận lợi trong suốt cả năm. Việc chọn giờ khai trương mở hàng cũng tương tự như việc chọn ngày xuất hành ở trên.
 Theo Trung Quốc Dân Lịch (năm Quý Tỵ - 2013) :
Mồng một Tết là ngày tân cát (tốt), đại cát (cực tốt). Quý Thần xuất hiện tại phương Tây Bắc, Tài Thần xuất hiện tại phương chính Tây. Cát môn (cửa tốt) hướng Đông Bắc, Sinh môn (cửa sống) hướng chính Bắc.
Giao thừa giờ Tý (từ 23 giờ ngày 29 Tết đến 1 giờ mồng 01 Tết), lập bàn thờ cúng bái Thiên Địa ngoài sân thì nên quay mặt lễ về hướng Đông Bắc (cát môn) và hướng chính Bắc (sinh môn).
Đốt đèn, dâng hương cúng Phật và Tổ Tiên trong nhà nên chọn giờ Tỵ (từ 9 đến 11 giờ). Giờ thượng cát (rất tốt) để cầu phúc, cầu tài lộc, cầu thọ là giờ Ngọ (từ 11 đến 13 giờ) lễ Ngọc Đường quý nhân và giờ Dậu (từ 17 đến 19 giờ) lễ Thiên Ất quý nhân.
Giờ đại cát (cực tốt) để xuất hành đến chùa cầu an là giờ Tỵ (từ 9 đến 11 giờ), và giờ Ngọ (từ 11 đến 13 giờ). Lúc xuất hành nên đi theo hướng chính Tây để nghênh đón Tài Thần, hoặc hướng Tây Bắc để nghênh đón Quý Thần.
Giờ Sửu (từ 01 đến 03 giờ), giờ Thân (từ 15 đến 17 giờ), giờ Hợi (từ 21 đến 23 giờ) là giờ hung (xấu).
Giờ Dần (từ 03 đến 05 giơ), và giờ Mão (từ 05 đến 07 giờ) là giờ Tiệt Lộ Không Vong, không nên xuất hành.
Chính Đông là hướng Ngũ Quỷ. Chính Nam là Tử môn (cửa chết). Không được lễ bái, xuất hành hai hướng này.
Theo Trung Quốc Dân Lịch (năm Quý Tỵ - 2013) và Đổng Công Soạn Trạch Nhất Yếu Giác, trong tháng giêng, các ngày tốt dùng để khai trương buôn bán, khởi đầu công ăn việc trong năm mới là:
- Mồng 06 (ngày Nhâm Tý, trực Khai), các giờ tốt: Mão (từ 5 đến 7 giờ), Thìn (từ 7 đến 9 giờ), Tỵ (từ 9 đến 11 giờ).
- Mồng 10, (ngày Bính Thìn, trực Mãn), các giờ tốt: Mão (từ 5 đến 7 giờ), Ngọ (từ 11 đến 13 giờ).
- Ngày 12 (ngày Mậu Ngọ, trực Định), các giờ tốt: Mão (từ 5 đến 7 giờ), Tỵ (từ 9 đến 11 giờ). Ngày này có các sao tốt như: Huỳnh La, Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Kim Ngân, Khố Lầu, Điền Đăng, Nguyệt Tài Khố chiếu soi nên được coi là ngày tốt nhất đối với việc khai trương, xuất hành đi xa trong năm mới.
Các ngày tốt để cầu Phúc: Mồng 03, mồng 06, mồng 10, ngày 12, và ngày 16.
Các ngày tốt để cầu Tài: Mồng 03, mồng 09, mồng 10, ngày 18, và ngày 21.
Các ngày tốt để xuất hành đi xa: Mồng 9, ngày 18, ngày 21 và ngày 25.

Mùng 1 Tết (10/2, chủ nhật, Đinh Mùi): Có thể xuất hành, mở hàng, đi lễ. Xuất hành chọn hướng  Đông.

Mùng 2 Tết (11/2, thứ 2, Mậu Thân): Không lợi xuất hành, mở hàng. Có thể đi lễ. Nếu cần xuất hành chọn hướng Bắc (Tài thần).

Mùng 3 Tết (12/2, thứ 3, Kỷ Dậu): Không lợi xuất hành, mở hàng. Có thể đi lễ. Nếu cần xuất hành chọn hướng Nam (Tài thần).

Mùng 4 Tết (13/2, thứ tư, Canh Tuất): Không lợi xuất hành. Có thể mở hàng, đi lễ. Nếu cần xuất hành chọn hướng Tây Nam (Tài thần).

Mùng 5 Tết (14/2, thứ 5, Tân Hợi): Có thể xuất hành, mở hàng, đi lễ. Xuất hành chọn hướng Tây Nam (Tài thần).

Mùng 6 Tết (15/2, thứ 6, Nhâm Tý): Có thể xuất hành, mở hàng, đi lễ. Xuất hành chọn hướng Tây.

Mùng 7 Tết (16/2, thứ 7, Quý Sửu): Không lợi xuất hành, mở hàng. Có thể đi lễ. Nếu cần xuất hành chọn hướng Tây (Tài thần).

Mùng 8 Tết (17/2, chủ nhật, Giáp Dần): Không lợi xuất hành, đi lễ. Có thể mở hàng. Nếu cần xuất hành chọn hướng Đông Nam (Tài thần).

Mùng 9 Tết (18/2, thứ 2, ất Mão): Có thể xuất hành, mở hàng, đi lễ. Xuất hành chọn hướng Đông Nam (Tài thần).

Mùng 10 Tết (19/2, thứ 3, Bính Thìn): Có thể xuất hành, mở hàng, đi lễ. Xuất hành chọn hướng Đông.

Qua liệt kê ở trên có thể thấy: Ngày tốt cho xuất hành, gặp mặt đầu năm: mùng 1 (10/2), mùng 5 (14/2), mùng 6 (15/2), mùng 9 (18/2), mùng 10 (19/2).

Ngày tốt cho mở hàng, giao dịch ký kết đầu năm: Mùng 1 (10/2), mùng 4 (13/2), mùng 5 (14/2), mùng 6 (15/2), mùng 8 (17/2), mùng 9 (18/2), mùng 10 (19/2). Ngày tốt mở hàng nhiều, báo hiệu sự khởi sắc của nền kinh tế, tuy chưa rõ rệt.

Ngày tốt cho cúng tế, đi lễ đầu năm: Mùng 1 (10/2), mùng 2 (11/2), mùng 3 (12/2), mùng 4 (13/2), mùng 5 (14/2), mùng 6 (15/2), mùng 7 (16/2), mùng 9 (18/2), mùng 10 (19/2).

B/CHỌN TUỔI NGƯỜI XÔNG ĐẤT NĂM QUÝ TỊ

 Theo phong tục, hàng năm cứ vào ngày 01Tết Nguyên đán, bà con ta lại thường có tục chọn mời người đến xông nhà, với hy vọng sang năm mới gia đình gặp nhiều thuận lợi trong công việc làm ăn, học hành thi cử…
          Việc mời ai và không nên mời ai đến xông nhà là rất quan trọng, phụ thuộc nhiều yếu tố, mỗi yếu tố phục vụ một yêu cầu cụ thể dưới đây:

A.     CÁC YÊU CẦU VÀ LÝ GIẢI:

Theo các tài liệu của thạc sĩ Trần Mạnh Linh (chủ tịch CLB Dịch học Hà Nội), việc chọn người đến xông đất, nhà đầu năm xuất phát từ nguyên tắc: ““Chi hợp Tuế niên, Can hợp mệnh”. Cụ thể phải đạt được ba yêu cầu sau:

1/ yêu cầu I: HỢP THÁI TUẾ: Chi tuổi người đến xông đất có HÀNH hợp với HÀNH của CHI năm mới.
Ở đây người ta thường xét theo Nhị hợp hoặc Tam hợp về hàng chi của Thái Tuế năm muốn xem, so với tuổi của người đến xông đất. Nhưng phải tránh xung với tuổi gia chủ. Ví dụ năm 2013 thì Thái Tuế là QUÝ TỊ.
NHỊ HỢP (còn gọi LỤC HỢP) gồm có Tý hợp Sửu, Dần hợp Hợi, Mão hợp Tuất, Thìn hợp Dậu, Tị hợp Thân và Ngọ hợp Mùi. Ví dụ năm Tị thì chọn người tuổi Thân đến xông đất là được NHỊ HỢP.
Nhưng rất lưu ý là tuổi người đến xông đất phải không được xung với tuổi gia chủ. Ví dụ năm Tị nếu gia chủ là tuổi Hợi thì lại phải kiêng tránh.
TAM HỢP gồm có Thân – Tý – Thìn, Tị – Dậu – Sửu, Dần – Ngọ – Tuất và Hợi – Mão – Mùi. Ví dụ năm Tị có thể chọn người tuổi Dậu và Sửu đến xông đất là được TAM HỢP (cũng có thể chọn tuổi Tị nhưng mức độ đẹp kém hơn). Nhưng lưu ý: với gia chủ tuổi Mão thì không chọn người tuổi Dậu, gia chủ tuổi Mùi thì không chọn người tuổi Sửu.
Thông thường người ta thích chọn tuổi nhị hợp hơn vì chọn tam hợp cần phải có đủ bộ cả 3 người thì mới được.
Ngoài ra, còn có thể chọn theo TAM HỘI CỤC thì càng đẹp vì Tam hội cục chiếm toàn bộ tú khí nên lực mạnh hơn. Cách này đẹp nhất giống như Tam hoá liên châu nhưng lại khó thực hiện bởi phải đảm bảo kết hợp đủ cả năm Thái Tuế cộng với tuổi của gia chủ và tuổi của người xông đất để tạo thành thế tam hội thì mới được. Tam hội gồm có Hợi – Tý – Sửu,  Dần – Mão – Thìn, Tị – Ngọ – Mùi và Thân – Dậu – Tuất. Ví dụ năm TỊ, gia chủ tuổi NGỌ thì có thể chọn người tuổi MÙI. Hoặc gia chủ tuổi MÙI có thể chọn người tuổi NGỌ đến xông đất là đẹp nhất. Như vậy là hàng chi đòi hỏi phải hợp hoặc hội. Ở Việt Nam một số người thuộc giới quan chức thường chọn đủ cả bộ tam hợp. Hoặc giả sử nếu mệnh chủ tuổi MÙI có thể chọn tuổiMẬU NGỌ xông đất thì sẽ vừa được tam hội cục vừa được hợp quan. Các trường hợp khác cứ thế mà suy ra.

KẾT LUẬN CHO YÊU CẦU I: Năm QUÝ TỊ nên chọn người đến xông nhà có chi tuổi làTHÂN, SỬU, DẬU hoặc TỊ. Và là NGỌ: Nếu gia chủ tuổi MÙI và MÙI: Nếu gia chủ tuổi NGỌ.

2/ Yêu cầu II: HỢP MỆNH CHỦ để được QUAN, TÀI LỘC, ÂN hoặc PHÚC: CAN tuổi “người đến xông đất” cần phối với CAN “mệnh chủ” để đạt các mục tiêu lợi ích (Quan, Tài lộc, Ân hoặc Phúc) mà chủ nhà mong muốn:
Tuỳ theo nhu cầu của chủ nhà thích cái gì thì chọn theo hình thức ấy. Có thể chọn hợp quannếu muốn thuận lợi cho công việc hay quan chức. Hoặc chọn hợp Tài (phát tài), chọn hợp ấn (thuận lợi cho học hành, thi cử) hay chọn hợp Phúc để giải trừ những tai hoạ bệnh tật đang có. Cụ thể như sau:
a. Chọn hợp quan (lợi cho công việc) là chọn can của tuổi người xông đất có hành (theo ngũ hành) khắc hành can của MỆNH CHỦ, nhưng phải lấy theo âm dương hỗ hoán. Ví dụ MỆNH CHỦ tuổi Giáp hành Mộc dương thì phải chọn người tuổi Tân hành Kim âm xông đất. Với MỆNH CHỦ tuổi QUÝ thì có thể chọn tuổi MẬU xông đất .
b. Chọn hợp tài lộc là chọn can của MỆNH CHỦ khắc can của tuổi người xông đất. Ví dụ MỆNH CHỦ tuổi QUÝ có thể chọn người tuổi BÍNH hoặc ĐINH đều được cả (khộng cần xét âm dương hỗ hoán). Ví dụ nếu kết hợp với hàng chi đã nêu ở trên thì có thể chọn các tuổiBÍNH THÂN, ĐINH SỬU, ĐINH DẬU hoặc ĐINH TỊ.
c. Chọn hợp ấn (Khoa bảng, Học hành) là chọn người xông đất có can của tuổi sinh cho can của MỆNH CHỦ và cũng phải lấy theo âm dương hỗ hoán. Thường năm đó nhà nào đều làm luận án hoặc có con thi đại học thì chọn cách này. Ví dụ MỆNH CHỦ là QUÝ, có thể chọn người tuổi CANH vì CANH (dương kim) sinh cho QUÝ (âm thủy).
d. Chọn hợp phúc (Lợi cho con cháu, để giải trừ những tai hoạ bệnh tật) là chọn can của MỆNH CHỦ sinh cho can của tuổi người xông đất và phải cùng âm dương. Ví dụ MỆNH CHỦQUÝ (âm thủy) có thể chọn ngưòi tuổi ẤT (âm mộc). Thông thường, nếu trong nhà đang gặp nhiều sự cố như ốm đau bệnh tật, vợ chồng thường xuyên cái nhau và nhất là bị kiện tụng thì người ta hay chọn hợp phúc để mong hoá giải.
 KẾT LUẬN CHO YÊU CẦU II: Tôi đưa cả vào Bảng 4 nói ở phần THỰC HÀNH.

3/ yêu cầu III: HỢP MỆNH CHỦ để được “LỘC”, “QUÝ NHÂN”, “MÔ:
Ngoài yêu cầu II trên, muốn đạt hiệu quả cao hơn nữa thì từ các cách thức chọn ở trên người ta có thể kết hợp với chọn Lộc – Mã – Quý Nhân để tạo thành Tam hoá liên châu là đẹp nhất. Thực ra để đạt được phải kết hợp nhiều yếu tố nên không dễ gì chọn được. Cụ thể như sau (Bảng 1, Bảng 2):
         a. CHI Tuổi người xông đất nên phối với CAN tuổi chủ nhà thành LỘC, QÚY NHÂN:
Bảng 1


        b. CHI Tuổi người xông đất nên phối với CHI chủ nhà thành MÃ:
Bảng 2



VÍ DỤ: Chọn lộc. Ví dụ MỆNH CHỦ tuổi Giáp (thân), theo Bảng 1 lộc ở Dần nhưng Dần – Thân xung nhau nên không chọn được tuổi này. MỆNH CHỦ tuổi QUÝ (TỊ), LỘC ở TÝ (Bảng 1) – có thể chọn người xông đất tuổi TÝ.

Chọn Quý nhân Ví dụ MỆNH CHỦ tuổi NHÂM có thể chọn người tuổi TỊ hoặc MÃO xông đất  (Bảng 1).

Chọn Mã thuận lợi cho việc xuất ngoại hay đi xa. Ví dụ MỆNH CHỦ tuổi TỊ chọn tuổi HỢI(Bảng 2) đến xông đất.
KẾT LUẬN CHO YÊU CẦU III: Tôi đưa cả vào Bảng 5 nói ở phần THỰC HÀNH.

GHI CHÚ: Việc chọn được người đến xông đất, xông nhà thỏa mãn cả 3 yêu cầu là điều rất khó. Chọn được mức nào hay mức ấy, chứ không nên quá cầu toàn. Ngoài ra còn cần xem xét thêm 2 yêu cầu sau:
4/ Yêu cầu 4: QUAN HỆ PHÙ HỢP NGŨ HÀNH GIỮA CHỦ NHÀ VẦ NGƯỜI ĐẾN XÔNG: Dựa theo bảng 3 dưới đây:  
Bảng 3




5/ yêu cầu 5: Tránh mời người có tuổi xung khắc với Năm Mới, với Tháng giêng năm mới và với ngày đầu năm (ngày mời người đến xông nhà).
***
 B. PHẦN THỰC HÀNH
Phần trình bầy trên có thể hơi phức tạp với một số vị. Để giúp mọi người tra cứu nhanh việc chọn người đến xông đất, nhà TẾT QUÝ TỊ phù hợp với từng tuổi chủ nhà, tôi lập Bàng 4 và 5dưới đây, các vị chỉ cần căn cứ TUỔI MỆNH CHỦ rồi đối chiếu MONG MUỐN của gia chủ để chọn:
Bảng 4


Bảng 5



VỀ YÊU CẦU SỐ 5: việc chọn người đến xông nhà còn cần tránh mời người có CAN CHI “thiên khắc địa xung” hoặc có “ngũ hành nạp âm” xung với Năm Mới, với Tháng giêng năm mới và với 5 ngày Tết (ngày mời người đến xông nhà) như sau:
Năm QUÝ TỊ – Trường lưu THỦY, không chọn tuổi: Kỷ hợi (“thiên khắc địa xung” cho năm Quý Tị); các tuổi hành THỔ: Bính Tuất (1946-Ốc thượng Thổ), Canh Ngọ (1990-Lộ bàng Thổ), Tân Mùi (1991- Lộ bang Thổ), Canh Tý (1960-Bích thượng Thổ), Tân Sửu (1961- Bích thượng Thổ), Mậu Dần (1938-Thành đầu Thổ), Kỷ Mão (1939-Thành đầu Thổ), Mậu Thân (1968-Đại trạch Thổ), Kỷ Dậu (1969-Đại trạch Thổ), Đinh Hợi (1947-Ốc thượng Thổ), Bính Thìn (1976-Sa trung Thổ) và Đinh Tị (1977-Sa trung Thổ)
THÁNG GIÊNG: tháng Giáp Dần – đại khê THỦY: không chọn tuổi Canh thân  (1980) – “thiên khắc địa xung” cho THÁNG GIÊNG; các tuổi hành THỔ (như ngày 01 TẾT dưới).
1 TẾT: Ngày Đinh Mùi – thiên hà THỦY: không chọn tuổi Quý sửu (1973) – “thiên khắc địa xung” cho ngày 01 TẾT; các tuổi hành THỔ: BÍNH TUẤT-ĐINH HỢI- MẬU THÂN-KỶ DẬU- BÍNH THÌN-ĐINH TỊ- CANH TÝ-TÂN SỬU.
2 TẾT: Ngày Mậu Thân – đại dịch THỔ: không chọn tuổi Giáp dần (1974) – “thiên khắc địa xung” cho  ngày 02 TẾT; các tuổi hành MỘC: CANH DẦN-TÂN MÃO-NHÂM TÝ-QÚY SỬU-MẬU TUẤT-KỶ HỢI-CANH THÂN-TÂN DẬU.
3 TẾT: Ngày Kỷ Dậu – đại dịch THỔ: không chọn tuổi Ất mão (1975) – “thiên khắc địa xung” cho ngày 04 TẾT; các tuổi hành MỘC như ngày 2 Tết.
4 TẾT: Ngày Canh Tuất – thoa xuyến KIM: không chọn tuổi Bính thìn (1976) – “thiên khắc địa xung” cho ngày 04 TẾT; các tuổi hành HỎA: GIÁP THÌN-ẤT TỊ-BÍNH DẦN-ĐINH MÃO-MẬU TÝ-KỶ SỬU-GIÁP TUẤT-ẤT HỢI-BÍNH THÂN-ĐINH DẬU-MẬU NGỌ-KỶ MÙI.
5 TẾT: Ngày Tân Hợi – thoa xuyến KIM: không chọn tuổi Đinh tị (1977) – “thiên khắc địa xung” cho ngày 05 TẾT; các tuổi hành HỎA như ngày 4 TẾT.

* Các trường hợp nêu trên, khi lập Bảng 4 và 5, chúng tôi đã loại ra.

CHÚ 1:  Chọn người xông đất.
Chọn tuổi đã là một sự rất cầu kỳ và không phải dễ dàng, nhưng muốn hoàn hảo người ta còn phải chọn cụ thể người đến xông đất dựa trên mấy yếu tố sau: Phải là người nhẹ vía, thoáng tính và quan trọng hơn cả là người đó vận phải đẹp, lúc là vận đang đi lên. Tránh chọn người vận xấu đang đi xuống, hay ốm đau bệnh tật hoặc đang có bụi (nhà có tang). Cũng thường chọn đàn ông xông đất, vì Tết là khí Lập xuân dương khí bắt đầu phát triển còn yếu (Thiếu dương) nên rất sợ âm khí vào tiêu diệt dương trưởng. Chính vì vậy phải chọn nam giới để dương khí của nhân thế sẽ bổ khuyết cho dương khí của Tiên thiên vượng lên. Mặt khác, dương khí còn tượng trưng cho người quân tử vì thế phải chọn nam giới để lấy dương khí vào nhà thì mọi việc mới trôi chảy. Nếu tự mình xông đất cho mình thì không hay lắm, ví như là Phục vị vậy.
CHÚ 2: Cách thức xông đất:
Thông thường chủ nhà phải đến nhà người mình định nhờ xông đất từ trước Tết khoảng 1,2 tuần để mang quà biếu và hẹn trước thời gian đến xông đất.
Người xông đất đến chúc Tết và xông đất phải theo cách thức nhất định tuỳ theo các cục: Tài, Quan, Phúc, Ấn… mà gia chủ đã chọn. Sau giao thừa, người xông đất sẽ đi ra khỏi nhà, trước khi đến xông đất họ thường vào một chùa nào đó để thắp hương và xin lộc cho gia chủ nhờ mình xông đất bằng cách bỏ một ít tiền công đức sau đó xin một túi lộc của nhà chùa. Nhà chùa thường chuẩn bị sẵn các túi có ghi chữ lộc, quan, ấn, phúc…đã được trì chú cẩn thận. Nếu xông đất theo tài cục thì người xông đất sau khi lễ và công đức sẽ xin một cái túi ghi chữ Lộc (trong túi có một nhánh lộc nhỏ và một số thứ khác) rồi bỏ thêm 1 phong bao lì xì màu đỏ vào túi đó và đi đến nhà người nhờ mình xông đất. Theo qui định bất thành văn thì sau khi ra khỏi chùa người xông đất sẽ phải đi vòng qua ít nhất là 3 đoạn phố khác nhau rồi mới được đến nhà gia chủ xông đất chứ không được đi thẳng một con đường. Và thường là gia chủ sau khi nhận lời chúc và lộc của người xông đất mang đến thì cũng có một phong bao đáp lễ đối với người xống đất.
Nếu xông đất theo cục Quan thì người đến xông đất sẽ mang theo 1 chai rượu, vào chùa xin túi có chữ Quan (trong túi có 1 cái mũ cánh chuồn nhỏ bằng giấy) và đến chúc cho gia chủ năm nay được thăng quan tiến chức. Xông đất theo cục ấn thì người xông đất không cầu xin lộc ở chùa mà thường chúc bằng chữ (Thư pháp hay Thư hoạ). Nếu biết viết chữ thì người xông đất sẽ tự viết, còn nếu không thì có thể mua chữ hay xin chữ cho vào khung rồi mang đến chúc tặng gia chủ. Người Trung Quốc thường hay viết chữ lên vải để chúc tặng chủ nhà. Nếu chúc phúc thì họ thường mang đến một cái tượng thiên sứ nhỏ hoặc tượng các con giống…dưới đáy tượng có ghi tên Thái tuế năm đó.

C/ PHI TINH NĂM QUÝ TỴ (2013).
Khi xét phong thủy cho một năm thì cần nhất phải chú ý đến các phương vị có hung tinh chiếu đến. Ta có thể bỏ qua các phương vị có sao tốt, nhưng không thể không có cách chế hoá các sao đưa đến tai hoạ. Ngoài những hung tinh, ta còn phải chú ý đến các phương vị của Thái Tuế, Tam Sát, Tuế Phá để đề phòng không phạm vào những điều kỵ đối với các phương vị này. 


Năm nay Ngũ Hoàng nhập trung cung, Lục Bạch hướng Tây Bắc nhập Càn cung, Thất Xích hướng Tây nhập Đoài cung, Bát bạch hướng Đông Bắc nhập Cấn cung, Cửu Tử hướng Nam nhập Ly cung,Nhất Bạch hướng bắc nhập Khảm cung, Nhị Hắc hướng Tây Nam nhập Khôn cung, Tam Bích hướng Đông nhập Chấn cung, Tứ Lục hướng Đông Nam nhập Tốn cung.
Trong đó : Ngũ hoàng Thổ chủ tai họa, bệnh tật. Ngũ Hoàng là Đại Sát tinh đi đến đâu chủ tai hoạ đến đó nên phương này chủ bệnh tật tai hoạ. 
Sao Nhị Hắc chứa nhiều bệnh tật, hạn hán do bị khí độc , chủ bệnh tật, ôn dịch.
Sao Thất Xích là sao Thoái Khí  chủ kìm hãm sự phát triển, xuất hiện chiến tranh hoặc tai hoạ, bệnh tật.

D/ Hạn Tam Tai: 
Thông thường nhất là tuổi của bạn đến hạn tam tai tức là hạn xấu phát xuất từ tuổi tác của mình, vi dụ :
•        Các tuổi Thân, Tý, Thìn có hạn tam tai là những năm Dần, Mão, Thìn.
•         Các tuổi Hợi, Mão, Mùi có hạn này ở những năm Tỵ Ngọ Mùi. 
•        Các tuổi Tỵ Dậu Sửu gặp năm tam tai là Hợi Tý Sửu. 
•        Và các tuổi Dần, Ngọ Tuất gặp các năm tam tai là năm Thân Dậu, Tuất.

         Ý nghĩa của hạn tam tai thường gặp chuyện không may về việc làm ăn hay sửa nhà cửa.
2)- Năm Hung Niên, tính theo tuổi của mình, và mỗi tuổi có một năm hung niên khác nhau, và nam nữ khác nhau.
3)- Về phong thủy cũng có thể đem đến cho bạn những chuyện không may. Đến đây bàn về cách xã xui thì tùy theo trường hợp cũng như mức độ không may mắn để có những phương cách xả xui thích hợp:
- Những người buôn bán khi gặp khách hàng không thuận lợi, hoặc mới mở cửa hàng gặp rủi ro thường dùng giấy đốt nơi mình buôn bán để xả xui, tiếng bình dân gọi là đốt phong long.
- Gặp hạn xấu trong những năm kể trên tính theo tuổi của mình thì nên kiên cữ không nên làm những công việc trong hạn xấu đó.
- Gặp hạn xui bị thưa kiện hay mắc vào vòng lao lý có cách xả xui là bước qua hỏa lò trước khi vào nhà.
-Ngoài ra trong trường hợp nặng nề hơn cũng có thể tắm lá bưởi cũng tốt.
-Và để may mắn trong công việc, cửa tiệm, nhà cửa dùng trầm hương xông lên cũng là điều tốt cho mình và cũng là một biện pháp hóa giải.
Ngoài ra, người Hoa còn dùng bột Hồng Hoàng để trừ tà, xã xui. Dùng quả trứng đỏ để trừ vận khí xấu, dùng vải đỏ hay dây tơ hồng để cầu tài trừ hao tán và còn nhiều nữa rất dài dòng không tiện liệt kê ra đây.
Thưa các bạn, vận xui và xả xui có thật hay không là tùy theo niềm tin của bạn.

E/ Sao hạn Cửu Diệu   .


Ảnh hưởng của Cửu Diệu tinh
La Hầu - còn gọi là Khẩu thiệt tinh, là sao xấu ảnh hưởng nặng cho Nam giới và người mạng Kim, phái Nữ thì ảnh hưởng nhẹ. Thường gây ra những trở ngại bất trắc, bệnh tật, khẩu thiệt, thị phi miệng tiếng. Hạn sao này cần phải dè dặt cẩn thận. Ảnh hưỡng vào các tháng giêng và tháng 7.
Thổ Tú - còn gọi là Thổ Đức tinh hay Ách tinh chủ gia đạo bất an buồn phiền, bệnh hoạn hay kéo dài, tiểu nhân phá phách, đi xa bất lợi. Hai tháng 4 và 8 bất lợi.
Thủy Diệu - còn gọi là Thủy Đức tinh là Phúc lộc tinh chủ bình an, giải trừ tai nạn, đi xa có lợi, Phụ nữ bất lợi về đường sông biển. Ảnh hưỡng vào các tháng 4 và tháng 8. Người mạng Kim và Mộc hợp với hạn sao này, riêng người mạng Hỏa thì hơi bị khắc kỵ.
Thái Bạch - còn gọi là Kim Đức tinh, là hung tinh chủ về sự bất toại tâm, xuất nhập phòng tiểu nhân, hao tán tiền bạc, bệnh tật nảy sinh. Phòng tháng 5 xấu, nhất là những người mệnh hỏa, kim và mộc.
Thái Dương - Phúc tinh chủ sự hanh thông, cứu giải nạn tai. Với Nữ giới thì công việc vẫn thành công nhưng rất vất vả. Tốt vào các tháng 6 và 10.

Vân Hán - còn gọi là Hỏa Đức tinh là Tai tinh chủ hao tài, khẩu thiệt và tranh chấp, kiện tụng bất lợi. Đề phòng những rủi ro bất ngờ. Tháng 4 và 8 xấu.
Kế Đô - được ví như bà hoàng hậu khắc khe, là sao xấu ảnh hưởng nặng nơi phái Nữ, riêng những người có thai hay sinh đẻ trong hạn sao này thì ít bị ảnh hưởng. Gặp hạn sao này những mưu sự thường gặp khó khăn, thành ít bại nhiều, phòng thị phi, đau ốm hay tai biến bất ngờ. Sao Kế đô dù ít ảnh hưởng tới Nam giới nhưng ít nhiều cũng có tác dụng không thuận lợi. Phòng tháng 3 và tháng 9
Thái Âm - Phúc tinh chuyên cứu giải bình an, tốt cho Nữ số.  Sao Thái Âm nhập hạn là tài tinh đem lại nhiều may mắn về tài lộc nhưng mang tính chất bất thường, thời vận hay thăng trầm.
Mộc Đức - Phúc tinh chủ may mắn, gặp thời vận tốt. Sao Mộc đức cũng là một phúc tinh cứu giải nên trong trường hợp dù gặp khó khăn gì vẫn có quý nhân giúp sức vượt qua. Tháng 10 và 12  tốt, riêng người mạng Kim thì bất lợi đôi chút vì không hợp với hạn sao này.
Năm hạn trong lá số Tử Vi tốt mà gặp Cửu Diệu tinh nhập hạn tốt thì lại càng tốt thêm. Nếu gặp hạn sao xấu mà năm nhập hạn trong lá số tốt thì sao hạn xấu sẽ được giảm bớt.
Ngược lại nếu năm hạn trong lá số xấu mà gặp thêm Cửu Diệu tinh nhập hạn xấu  thì năm hạn xấu sẽ càng xấu thêm.    
Trên đây là những tài liệu dienbatn sưu tầm và biên soạn lại. Các bạn chỉ dùng tham khảo. Cách tốt nhất để cầu bình an , sức khỏe, tiền tài, hạnh phúc , danh vọng .... vẫn là tu nhân, hành thiện , tích phúc, giúp đỡ người nghèo, các cháu học sinh miền núi, cô nhi , quả phụ, tế bần , cứu nạn. Đó mới là gốc rễ lâu dài. Thân ái . dienbatn.